PGS.TS Võ Văn Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng): Đổi mới đồng bộ:
Tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư đối với giáo dục ĐH Việt Nam hiện nay rất sát với thực tế. Có thể nói, giáo dục ĐH Việt Nam những năm qua có những bước tiến đáng kể trong việc thay đổi từ thiết kế chương trình, tổ chức đào tạo và đánh giá…
Tuy nhiên, sự thay đổi này chưa đồng bộ. Một số trường ĐH đã bứt phá nhanh trong cách tiếp cận chương trình tiên tiến, áp dụng phương pháp giáo dục theo định hướng năng lực,… Song, với số lượng lớn các trường ĐH hiện nay phân bố và phân khúc khác nhau, nên có những đơn vị vẫn loay hoay tuyển sinh và đào tạo “truyền thống”, nặng lý thuyết, nhẹ thực hành và xa rời thực tế xã hội.
Có thể nói, hạn chế, tồn tại trong phương pháp dạy - học ở ĐH hiện nay chủ yếu xoay quanh mấy vấn đề lớn sau:
Một là, còn cơ sở giáo dục ĐH nặng tư duy “quán tính”; ít cập nhật, thay đổi cách tiếp cận dạy học. Qua việc tham gia các đoàn đánh giá ngoài, tôi nhận thấy có những trường/khoa, từ khâu thiết kế chương trình đến giảng dạy phần lớn vẫn tập trung lý thuyết hàn lâm; thiếu thực hành, thực tập, thực tế.
Hai là, phần nhiều phương pháp dạy học còn truyền thống. Hiện nay, giáo viên phổ thông cơ bản được đào tạo bài bản về nghiệp vụ trong khi đó giảng viên ĐH chưa quan tâm nhiều đến vấn đề này. Xem xét năng lực giảng viên chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu, trình độ, bằng cấp.
Một số “giảng viên” mời từ cơ quan, doanh nghiệp có bằng cấp nhất định nhưng chưa được trang bị kỹ năng, nghiệp vụ và thậm chí không hiểu rõ mục tiêu đào tạo ĐH… Cần khẳng định, đào tạo ở bậc ĐH phải chuyên nghiệp, mà trước hết giảng viên phải là nhà giáo chuyên nghiệp, chứ không thể bất cứ ai có tấm bằng được mời giảng là tự xưng giảng viên.
Ba là, phương pháp đánh giá người học còn hạn chế. Cùng một lĩnh vực đào tạo, trong khi có những trường tuyển sinh đầu vào thấp nhưng đầu ra điểm số cao; ngược lại trường “danh tiếng” đầu vào cao nhưng đầu ra lại thấp. Cả 2 cũng cần xem xét cách tiếp cận, nhất là cần có công cụ giám sát việc đo lường một cách khoa học.
Bốn là, một số lĩnh vực đào tạo cần cơ sở hạ tầng và trang thiết bị thực hành hiện đại nhưng nguồn lực hạn chế, chỉ dựa vào học phí thì khó đáp ứng được yêu cầu về đầu tư; trong khi nguồn ngân sách hạn hẹp, huy động nguồn lực xã hội còn nhiều khó khăn…
Năm là, hợp tác giữa các trường ĐH và doanh nghiệp cũng như tổ chức trong xã hội trong đào tạo và sử dụng lao động chưa chặt chẽ. Hạn chế này xuất phát từ nhiều phía không hẳn từ cơ sở giáo dục ĐH. Do sự kết nối cung cầu chưa tốt nên các bên liên quan đều gặp khó khăn riêng.